Ta có rực rỡ ở nhân gian không?

Một quyển sách và hai buổi chiều chăm chú đắm mình vào từng con chữ để lật đến trang cuối cùng.

“Một thoáng ta rực rỡ ở nhân gian” của Ocean Vương.

– Grief.

– Khắc khoải.

Đó là những ý nghĩ đầu tiên của tôi khi quyển sách được gấp lại.

Grief” trong tiếng Việt có nghĩa là sự đau buồn, nỗi sầu khổ, thương tiếc.

Còn “khắc khoải” – là trạng thái thương nhớ, đau buồn cứ kéo dài mãi, miên man, âm ỉ mà vô tận như chuyến tàu vĩnh viễn không thể đến được sân ga cuối.

Khắc khoải” không phải là một cơn đau tột độ. Nó không giống như trạng thái đỉnh điểm của giây phút bùng nổ cảm xúc.

Người ta ví von “nỗi khắc khoải” như những hạt kim tuyến lấp lánh vương trên nơi áo mình. Kim tuyến chỉ là những hạt bụi có màu sắc, nhỏ, rất nhỏ, có thể dễ dàng bị cuốn đi bởi một cú thổi. Nhưng nó sẽ không hoàn toàn biến mất. Dù bạn có cố gắng làm sạch đến thế nào, để thời gian trôi qua bao lâu, thì vẫn sẽ vương vấn đâu đó xung quanh là những ánh sáng ấy. Dù sao thì chẳng điều gì có thể chiến thắng được thời gian. Chúng sẽ dần bay đi hết. Gần như đã chẳng còn lại một dấu vết gì. Chiếc áo đã trở về ổn định vốn như trạng thái ban đầu. Nhưng, chỉ khi ta nhìn thật kỹ, có thể quan sát cả bằng mắt thường, hoặc để trái tim trấn tỉnh cảm nhận, thì những hạt bụi rực rỡ vẫn đang nép mình yên lặng tại những kẽ hở. Có thể chúng đã bị mắc kẹt. Mà cũng có thể do chính những hạt kim tuyến đó là điều cần thiết để hoàn thiện chiếc áo.

Vậy trong tác phẩm “Một thoáng ta rực rỡ ở nhân gian”, tác giả đã nói điều gì với chúng ta.

“Một thoáng ta rực rỡ tại nhân gian”, là một Kunstlerroman, câu chuyện về hành trình của một nghệ sĩ trở thành người nghệ sĩ, là những suy nghĩ, những hồi tưởng, những ký ức sống động đến từng âm thanh, màu sắc và cảm xúc được kể lại bằng câu chữ đẹp đẽ của tác giả.

Dear Ma” – lời mở đầu quyển sách, cũng mở ra một lá thư thật dài của người con trai gửi cho mẹ. Kể cho mẹ nghe về chính cuộc đời của anh.

Ocean Vương cho ta được bước chân vào cuộn phim cũ, từ những năm 1992, từ cái lần đầu tiên năm 4 tuổi, anh bị mẹ đánh khi anh đang cố gắng dạy bà đọc những từ tiếng Anh đầu tiên, khi họ đang định cư trên đất Mỹ.

Anh kể lại cho mẹ, cũng như cho chúng ta về cảm xúc của đứa trẻ con phải trưởng thành lên cùng những khó khăn do rào cản ngôn ngữ, chủng tộc, màu da. Về những rung động vụng dại nhưng rất khát khao với cậu bạn Trevor. Về những con người bị mảng màu tối của chiến tranh nhuộm lấy cả cuộc đời họ, dù bom đạn đã lặng tiếng từ nhiều năm về trước.

Những nhân vật có thật, với câu chuyện quá khứ của họ rất phức tạp nhưng đồng thời cũng rất đỗi dễ đồng cảm.

Bà Lan – bà ngoại của anh. Ông Paul – người ông ngoại không cùng huyết thống với anh.

Mẹ Hồng. Trevor. Và chính bản thân Ocean.

Bước vào những trang sách trong tác phẩm này của Ocean, tôi đặc biệt ấn tượng với những hình ảnh ẩn dụ với nhiều tầng lớp ý nghĩa. Anh không kể về nỗi buồn, mà anh đã chạm khắc nó qua hình ảnh của đàn bướm di cư, qua vết chai trên tay mẹ, qua ánh nắng hắt hiu buổi chiều tà. Những câu văn đậm chất thơ, tỉ mỉ và sắc sảo, như những mảnh kính vỡ, đẹp lấp lánh nhưng cũng đủ sức làm người ta rớm máu.

Trích đoạn trong cuốn “Một thoáng ta rực rỡ ở nhân gian”

Tác giả đi sâu vào chi tiết, bóc tách từng lớp da thịt của sự vật, sự việc. Ngòi bút của Ocean như đưa tôi trở về vào đúng những ngày mùa hè rực rỡ hoàng hôn trên cánh đồng thu hoạch cây thuốc lá thoảng mùi chất diệp lục, về những đêm lặng yên trong căn hộ nghe được tiếng mẹ Hồng ngả lưng sau một ngày tiếp xúc với hoá chất, về con đường vắng cạnh dòng sông Connecticut có hai người con trai đi trên chiếc xe đạp với ánh trăng rọi. Mọi vật hiện lên sống động và run rẩy, như thể chúng đang thở ngay trên trang giấy. Rằng tôi đã thực sự nằm trên lớp mái của nhà kho màu xanh với tiếng dế hót để ngắm nhìn mặt trời cháy rực nơi một cậu trai Ohio khác cũng sẽ được thấy. Rằng tôi chính là người ngồi ở chiếc sofa dài nghe được từng suy nghĩ và mệt mỏi của các thành viên trong gia đình và cảm nhận được làn gió mát trong đêm thanh vắng dạo bờ sông.

Nhưng đặc biệt nhất có lẽ là những câu chuyện mà tác giả đóng vai trò là một người quan sát, một người kể. Anh miêu tả lại sự việc, không thêm những nhận xét, bình luận nào. Đơn thuần tác giả để chúng ta tự đặt bản thân vào tình huống đó, tự dùng những trải nghiệm và góc nhìn cá nhân để có suy nghĩ, quan điểm riêng.

Một đoạn trong sách, khi mẹ Hồng vào sáng chủ nhật – một ngày nghỉ nhưng vẫn phải một mình đến cửa hàng làm móng để làm việc, dù bà chẳng phải chủ tiệm. Một vị khách đặc biệt bước vào quán, một bà lão với mùi nước hoa rẻ tiền nồng gắt. Khi ngồi lên ghế để sục chân, bà để lộ ra một chiếc chân giả, với miêu tả của tác giả “nửa dưới ống chân bà là một mẩu cụt nâu nâu, trơn và tròn như đầu ổ bánh mì – hay như chính nó, một cái chân bị cắt cụt”

Sau khi được mát xa xong bắp chân duy nhất, bà ngập ngừng yêu cầu mẹ tiếp tục mát xa bắp chân còn lại. Mẹ không nói gì, mà quay sang bắp chân không tồn tại của bà, bằng cử động khẽ khàng đến mức không thể nhận ra và bắt đầu mát xa. Những cử chỉ, các bước thao tác được mẹ thuần thục làm, như thể nó vẫn đang ở đó.

“Mẹ định đi tới quầy tính tiền thì bà giữ mẹ lại, đặt một tờ một trăm đô gấp lại vào tay mẹ.

“Chúa phù hộ cho cô”, bà nói, mắt cụp xuống – rồi tập tễnh ra ngoài, chuông trên cửa đánh hai lần khi cửa đóng lại. Mẹ đứng đó, nhìn vào khoảng không.

Khuôn mặt Ben Franklin tối dần trong bàn tay còn ướt nước của mẹ, mẹ nhét tờ tiền, không phải vào máy tính tiền, mà vào áo ngực, rồi cột lại tóc”

Một câu chuyện nhỏ trong cuốn sách. Tôi cảm thấy lòng mình phức tạp, không phải bối rối, cũng không phải thương hại, càng không phải mừng rỡ, tôi vẫn chưa thể gọi tên được cảm xúc này, cũng như mẹ Hồng lúc đó – im lặng và nhìn vào khoảng không.

Không một lời bình luận, cảm xúc nào của tác giả được viết ra, nhưng tôi lại cảm thấy quá nhiều. Đó là câu chuyện về việc được đối xử công bằng, được cảm thấy bản thân ta vẫn còn nguyên vẹn sau những mất mát. Đó là câu chuyện của mưu sinh, của việc nhẫn nhịn chịu khó vì đứa con thơ và người mẹ già. Đó cũng là câu chuyện của tình người, của nhân ái và sự tử tế.

Lúc mới đọc được vài trang đầu của quyển sách, trong tôi dâng lên một nỗi nghi vấn, nhưng tôi vẫn tiếp tục. Sau khi được hé lộ thêm về quá khứ của ngoại Lan, tôi đã thực sự gấp quyển sách lại một chút, để suy nghĩ và tìm hiểu sâu hơn.

Gốc gác của ngoại Lan là ở Gò Công, bà đã trải qua nửa đầu cuộc đời mình với những tổn thương và sóng gió. Một người phụ nữ đứng dưới cơn mưa, ôm đứa con đỏ hỏn được quấn trong cái khăn đắt nhất tại sạp màu xanh da trời, màu xanh của hoà bình. Người phụ nữ ấy khóc, mùi khai của nước tiểu dưới đũng quần bà thoảng trong không khí, giàn giụa mà dùng một chút từ tiếng anh ít ỏi đủ để giữ được mạng mình “Du ét ây năm bơ oăn. Đừng bắn. Nô bang bang” khi đối diện với tên lính Mỹ đang chĩa họng súng đen ngòm vào mẹ con chị.

Bị gia đình gả cho tên chồng già hơn tuổi mình rất nhiều, ngoại Lan đã trốn thoát trong đêm thật khẽ, đi mãi để chạy về căn nhà tuổi thơ của mình, nhưng nhận lại những lời cay đắng “Gái không chồng như rác như rơm” – bà nức nở khi lặp đi lặp lại câu nói này với cháu trai của mình. Ngoại Lan từng phải làm gái bán dâm cho lính Mỹ: “Nuôi con thì phải vậy thôi, phải kiếm cái ăn. Ai có quyền đánh giá tui hả? Ai”, vừa chua cay mà xen chút kiêu hãnh như đang tự biện minh trước một phẩm phán vô hình. Rồi bà như đã sụp đổ lớp tự vệ cuối cùng khi thì thầm, nói với một người: má của ngoại – “Tui có muốn như thế đâu hả má. Tui muốn về nhà với má mà…

Tôi đã tự hỏi bản thân, tôi nên cảm thấy thế nào đây? Đồng cảm? Thương xót? Cần tỉnh táo khi đọc những tác phẩm như này hơn? Và rồi sau cùng, dù là một người con yêu nước, yêu Đảng thì tôi vẫn giữ được cho mình thái độ trung lập với tình huống này. Vì chẳng có ai là người xấu trong câu chuyện khi thời cuộc hỗn loạn, bản năng của con người là tồn tại, phải cố mà sống sót, khi trong lòng mình vẫn còn đứa con đỏ hỏn gọi mẹ. Có lẽ cảm xúc của tôi là chua xót trước số phận của những người khốn khổ khi đất nước đang chìm trong chiến tranh, họ chẳng còn sự lựa chọn nào khác, kể cả bán đi bản thân mình.

Chiến tranh là màu tối. Là bụi bẩn. Là mùi khói. Nó không thể nào được gột sạch. Không thể qua những giờ chà xát bản thân trong phòng tắm. Thậm chí cũng không thể, dù qua những thế hệ.

Ngoại Lan. Ông Paul. Má Lan. Và chính tác giả Ocean Vương cũng đã phải đi qua chiến tranh. Chỉ là khác thời điểm và khác những góc độ của cuộc chiến.

Vậy tại sao, tôi cảm nhận được chữ “khắc khoải” sau khi đọc xong quyển sách.

Tôi nghĩ đó là nỗi khắc khoải với Trevor. Tôi đi theo dòng cảm xúc cùng tác giả, trải qua cuộc tình từ những cảm xúc kết thân khi có những buổi trò chuyện dưới hoàng hôn sau buổi thu hoạch. Tôi đi cùng khoảnh khắc nằm cạnh nhau nghe radio về trận bóng bầu dục mỹ của đội Patriot. Tôi đi cùng sự cháy bỏng, nguyên thuỷ và trần trụi của hai người con trai khi họ vụng dại tìm hiểu về bản thân và con người của mình. Và, tôi đi đến lúc tác giả nhận được tin Trevor đã qua đời sau một cơn sốc thuốc.

Nỗi khắc khoải ấy còn dành cho ngoại Lan. Cách bà âu yếm gọi “Chó con” – một cái tên xấu xí với niềm tin để dễ nuôi nấng những đứa trẻ con trong nhà, không cho ma quỷ bắt chúng đi. Tác giả kể về cái lần cuối ngoại nằm trong căn phòng, bên cạnh là mẹ và bác Mai. Đến những giây phút cuối, bà chỉ mong được ăn bát cơm Gò Công. Bác Mai chỉ im lặng đi ra ngoài, nửa tiếng sau quay lại với bát cơm nóng trên tay. “Ngon quá. Ngọt quá. Gạo xứ mình – ngọt quá”, bà nhìn về nơi nào đó xa xăm. Sau giấc ngủ hai tiếng , bà tỉnh giậc để hít vào một hơi thật sâu, rồi im lặng, không còn tiếng thở ra nữa.


Tôi chợt nhớ đến ông ngoại của mình. Ông là người đầu tiên trong cuộc đời, tạm biệt tôi, theo cách đó.

Một tối mùa đông. Khi vẫn đang trên lớp dạy tiếng Anh cho mấy đứa nhỏ, tôi thấy bố gọi điện cho tôi, bảo tôi thu xếp luôn để vào viện thăm ông. Nhưng khi xuống đến cổng trung tâm, tôi thấy bố đứng đợi sẵn ở đó, và đưa tôi về nhà ông bà ngoại. Toi hỏi bố liên tục: Ông có ổn không ạ? Ông đang như nào vậy bố?, nhưng bố tôi chỉ im lặng. Về đến nơi, tôi thấy rất nhiều người lớn đang tụ tập trong nhà. Những người họ hàng, những người hàng xóm thân thiết. Nhà bà ngoại tối nay khác mọi khi. Người lớn đang chia nhau những tờ báo cũ, để dán kín những mặt kính, cửa kính trong nhà.

Tôi nhất thời chưa kịp hiểu chuyện gì đang diễn ra.

Tiếng còi xe cấp cứu.

Một chiếc xe cấp cứu dừng trước cửa nhà, một vài người hối hả xuống xe, mở cửa sau và tôi thấy ông đang nằm trên giường bệnh. Y tá và các bác hỗ trợ đưa ông vào nhà, để ông nằm trong căn phòng nhỏ ngay dưới tầng 1.

Trên giường, tôi thấy xung quanh ông có khá nhiều thiết bị, nhưng nổi bật nhất là một cái bình ôxi màu xanh đậm. Nó nối với một cái ống, và một vài cái ống khác, được đặt chắc chắn ở trên mặt nạ của ông.

Ngực ông phập phồng lên theo từng nhịp. Không phập phòng theo cách chúng ta thở tự nhiên, mà rất cưỡng ép. Lồng ngực ông căng to lên, tưởng tượng như một quả bóng được bơm đầy hơi đến mức có thể nổ bất cứ lúc nào. Rồi lại xẹp xuống ngay trong giây tiếp theo. Cứ như thế những nhịp thở đều. Những nhịp thở thường rất khẽ chứ nhỉ, nhưng nhịp thở của ông mà tôi nghe được thì lại rất to, to đến mức át đi những cảm xúc của tôi. “À, hoá ra máy thở hoạt động như này” – trong đầu tôi chỉ còn lại suy nghĩ.

Trang – chị họ kém một tuổi của tôi vừa hớt hải từ chỗ học về. Con bé chạy vào nhà, cất cặp sách, ghé qua phòng ông, rồi lặng lẽ đi ra ngoài.

Tôi vẫn nhớ ánh đèn đường màu cam ấm rọi xuống người khi tôi và Trang đan tay nhau đi dạo xung quanh khu nhà. Có lẽ đó là cách giúp đỡ của bọn trẻ con chúng tôi khi nhà đang có việc lớn. Trang khóc nức nở khi đi cạnh tôi. Tôi siết chặt tay Trang, như cái cách hồi nhỏ thường làm khi ông bà dặn là phải chơi ngoan ngoãn, nhường nhịn nhau. Tôi vỗ nhẹ vào vai, để Trang khóc. Tôi không nói được thêm gì, vì tôi chẳng có gì trong đầu ngoài suy nghĩ về hình ảnh ngực ông phập phồng và nguyên lý hoạt động của máy thở. Tôi cũng tự thắc mắc, sao mình không khóc nhỉ, mình cũng rất buồn, nhưng mình chỉ cảm thấy không thể rơi một giọt nước mắt nào trong lúc đó. Tôi đã nghĩ là có vẻ mình đón nhận chuyện này bình tĩnh hơn những gì mình đã tưởng tượng nó nên diễn ra.

Và trong suốt những ngày tiếp theo, những trải nghiệm lần đầu tiên khi có người thân trong gia đình mất, từ việc đón khách phúng viếng, nghi thức di quan, nhìn mặt người khuất lần cuối, trong tôi như luôn tồn tại một mặt hồ lằng lặng, lặp lại hình ảnh về ngực phập phồng, tiếng píp píp của máy thở, cái máy lạnh lẽo đang ép ông hô hấp những hơi cuối cùng. Tôi tự hỏi, lúc đó ông có nghĩ gì không, ông có cảm nhận được điều gì không, hay ông có biết chuyện gì đang diễn ra với mình không.

Rồi đến một tối của vài tháng sau, khi đang chia sẻ với một người bạn về câu chuyện tuổi thơ của tôi, tôi nhắc đến ông cùng những con thuyền giấy được xé ra từ quyển lịch treo tường mà ông dùng dạy hai đứa cháu gấp tỉ mỉ từng nếp. Ông rất giỏi gấp thuyền giấy, không chỉ loại thuyền có buồm dẹt đứng, mà ông tự hào dạy chúng tôi gập loại thuyền có đáy, phức tạp hơn nhiều nhưng lại xứng đáng vô cùng khi trong mắt đứa trẻ con tràn ngập sự hạnh phúc và phấn khích thì thấy con thuyền có thể nổi và trôi nhè nhẹ trên mặt nước.

Và tự dưng, tôi oà khóc nức nở, tôi khóc nấc như đứa trẻ con lên 5 vẫn bị ông mắng khi bày ra cái trò nhảy nhót trên những thành ghế cao. Tôi rất nhớ ông, nỗi nhớ này kỳ lạ đến mức mà bây giờ, mỗi khi chỉ cần nghĩ về ông, không kịp để cho cảm xúc kịp điều chỉnh thì những giọt nước mắt đã lăn thật dài trên má.

Hoá ra nỗi khắc khoải đúng như những hạt kim tuyến. Tưởng như đã bay đi hết theo thời gian, nhưng chúng vẫn vương đâu đó quanh chúng ta, không thể nào thực sự mất đi.

Ông ơi, thỉnh thoảng, cháu rất nhớ ông, cháu sắp quên mất cách gập thuyền có đáy rồi ông ạ.

Khi bác tổ trưởng khu phố đứng lên đọc điếu văn của ông trong tang lễ, tôi lắng nghe thật kỹ, tôi được nghe lại về toàn bộ cuộc đời của ông. Vậy là sau khi chết đi, cả một cuộc đời thật dài của chúng ta sẽ được kể lại qua những con chữ in trên tờ giấy A4 thôi sao – tôi thoáng nghĩ.

Hôm đó, tờ giấy không còn được gấp thành con thuyền có đáy nữa, nó hiện diện theo một cách khác, nhưng cũng để kể về cuộc đời của ông.

Vậy ông ngoại đã từng rực rỡ cho một thoáng ở nhân gian không?

Tôi có đang rực rỡ ở nhân gian không?

Ta có là một thoáng trên nhân gian không?

Hay ngọn lửa đó không chỉ rực rỡ một thoáng, mà nó sẽ luôn vang vọng đâu đó, trên những dòng chữ lặng im được đánh xuống tờ điếu văn, trên giọt nước mắt nóng của người cháu gái vẫn bận tâm về cách máy thở hoạt động trên cơ thể con người trong lễ tang?

Cảm ơn tác phẩm của Ocean Vương đã cho tôi một lần nữa nhớ về ông ngoại, nhớ về cuộc đời rực rỡ của ông tại nhân gian.

18h06, Hà Nội
Một buổi chiều lạnh và lau đi nước mắt trên mi.

Leave a Comment

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Scroll to Top